Hiển thị các bài đăng có nhãn Đời sống xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đời sống xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Chúc các bà, các mẹ, các chị và các em trong đại gia đình ta luôn vui tuơi, mạnh khỏe, hạnh phúc và đảm đang. Chúc các bạn nữ của gia đình Sachdientu ngày càng thêm xinh đẹp, dịu dàng, hạnh phúc và thành đạt.
Thân!
Phạm Thanh Hùng
0

Chúc các bà, các mẹ, các chị và các em trong đại gia đình ta luôn vui tuơi, mạnh khỏe, hạnh phúc và đảm đang. Chúc các bạn nữ của gia đình Sachdientu ngày càng thêm xinh đẹp, dịu dàng, hạnh phúc và thành đạt.
Thân!
Phạm Thanh Hùng
0

Chúc các bà, các mẹ, các chị và các em trong đại gia đình ta luôn vui tuơi, mạnh khỏe, hạnh phúc và đảm đang. Chúc các bạn nữ của gia đình Sachdientu ngày càng thêm xinh đẹp, dịu dàng, hạnh phúc và thành đạt.
Thân!
Phạm Thanh Hùng
0

C Not ruoi 3 baXEM  NÚT RUỒI SANG HÈN

- Bài Thiên Việt
Nốt ruồi là những chấm có màu sắc đen, nâu, xanh hay đỏ hồng (nốt ruồi son), nổi trên toàn thân người, còn không nổi mà bằng phẳng có những màu đen xám, xanh vàng, to gấp nhiều lần nốt ruồi gọi là bớt.
Theo khoa học phân tích :
- Nốt ruồi màu nâu, đen là do những tế bào có sắc tố tập trung lớp ngoài da tạo nên.
- Nốt ruồi xanh do những tế bào sắc tố dưới lớp chân lông tạo thành.
- Nốt ruồi đỏ hồng do những vi huyết quản phình lên mà có, là những chấm nhỏ màu đỏ, thường xuất hiện nhiều ở vuùng ngực, trên da mặt.
Chúng ta có thể tẩy dễ dàng những loại nốt ruồi màu nâu, đen vì ở ngoài da. Còn màu xanh hay đỏ, nếu tẩy sẽ gây ra những vết thẹo nhỏ.
Nhiều người vì mê tín mà đem tẩy những nốt ruồi to xuât hiện trên khuôn mặt, nhưng không hiểu tính chất của từng loại nốt ruồi đâm làm tổn thương đến chính bản thân. Trong tướng pháp nói rằng :
- Con người sinh ra những nốt ruồi như núi sinh ra cây cỏ, đất nổi đồi gò. Núi đẹp thì cây đẹp, đất xấu thì gò đồi xấu xí. Nên người có tố chất đẹp thì sẽ sinh ra những nốt ruồi đẹp đẻ, duyên dáng, còn có tố chất xấu thì nốt ruồi biểu hiện tính chất xấu của nó.
Cho nên những cái xấu cần phải ẩn nơi kín đáo, không đê lộ và đôi khi trở thành nốt ruồi ẩn tướng, mọi người khó có thể suy đoán ra tính tình, cốt cách. Còn những nốt ruồi son mà ẩn thuộc quý tướng. Nốt ruồi đen mà lộ quá nhiều là điềm hung, ẩn nơi kín đáo là kiết. Mọc trên mặt nhiều là hại bất cập lợi; nốt ruồi đen thì phải thật đen tránh màu nâu hay xám tro, còn nốt ruồi son phải đỏ như chu sa mới tốt.
Đen pha đỏ là nâu, chủ về người thích tranh cãi, biện luận; pha màu trắng thành màu xám tro, chủ về tai nạn, bệnh tật; pha màu vàng ra xanh đục, chủ về đảng trí.
Sách “Thần tướng toàn biên” khi nói về nốt ruồi :
- Mọc ở đầu và mặt : mọc ngay giữa trán là chủ phú quý, gần thiên đình là cực quý. Trên trán có 7 nốt ruồi đen chủ đại phú, đại quý. Mọc ngay Thiên trung thì hại cha, ngay Ấn đường là hại mẹ, ở Tư không thì hại cả cha lẫn mẹ.
- Mọc hai bên vành tai chủ về trí tuệ, thông minh, trong tai là chủ sống thọ, nếu bên tai trái chủ về tiền của.
- Mọc ở khoé mắt làm tướng lục lâm thảo khấu, trên con mắt mọc nhiều là khốn khổ, dưới con mắt là có lộc bất ngờ, trong lông mày chủ về công danh, phú quý.
- Mọc ở Sơn căn chủ về nghiệp binh đao “sinh nghề tử nghiệp”; mọc bên mũi đau khổ đẫm lệ, trên sống mũi suốt đời truân chuyên, trì trệ; ở chuẩn đầu mũi đề phòng chết vì súng đạn, gươm đao.
- Mọc ở Nhơn trung dễ cưới vợ lấy chồng giàu sang, bên mép miệng khó giữ được của cải, mất địa vị. Trên môi chủ về lộc ăn, dưới môi là phá của. Trên lưỡi là hay loạn ngôn…
Trong tướng pháp cho rằng, nốt ruồi mọc trên thân thể con người được chia làm ba phần :
Một ở đầu và mặt, hai ở tay chân và ba ở hai phần trên dưới hạ bộ.
Về phần đầu và mặt lại chia ra những vùng nhỏ phức tạp, như cùng với tóc, nốt ruồi mọc trong tóc là ẩn, chủ về giàu sang phú phú, trường thọ, càng lên đỉnh đâu càng quý tướng. Trên trán có “thất tinh” chủ về đại phú, đại quý…
Đây là phần quan trọng, chủ yếu trong cách xem nốt ruôi, còn tay chân không quan trọng, chỉ nên thêm phần trên dưới hạ bô, tức từ rún (rốn) trở xuông bẹn là cần xem.
C Not ruoi 1 thanSau đây là những nốt ruôi mọc trên thân thể (hình 1) :
- Toàn thân mỗi người thường hiện ra những nốt ruồi nhỏ, trong đó biểu hiện nốt ruồi son là tốt, còn đen tùy theo điểm mọc mới biết cát hung. Nốt ruồi ẩn là tốt, lộ ra là bình thường. Nốt ruồi càng to càng thể hiện tính cách trong cuộc sông; nốt ruồi càng rõ ràng là sự khẳng định, còn mờ nhạt là không chắc chắn trong dự đoán. Thông thường nốt ruồi chỉ mọc thêm chứ ít khi lặn, nếu phá đi chưa phải đã giải được hạn.
37 loại nốt ruồi được giải thích sau đây chỉ đại diện cho hàng trăm nốt ruồi mọc trên thân thể.
Hình 1 bao gồm những nốt ruồi chủ yếu, nếu nằm lệch hay sai vị trí chừng 5 ly, hoặc đối nhau mà không có số chú giải được xem có cùng một tên :
- Số 1 : Nốt ruồi có tên Trung tinh đình (trán bên phải), có quyền thế, tài lộc trên đường công danh sự nghiệp, sống lâu, gặp tai ương cũng vượt qua.
- Số 2 : Tả trung đình (trán bên trái), sống không sung sướng, thường dang dở về tình yêu và trong hạnh phúc gia đình gặp bế tắc.
- Số 3 : Hoạt sào (trên mí mắt bên trái), là nốt ruồi báo cho biết tâm lý thường hay đa cảm, đa sầu. Nhưng đường tình cảm thường bộc lộ ra mặt.
- Số 4 : Trung Thiên (ngay giữa trán), người chịu sửa chữa, phục thiện sau khi gây ra lỗi lầm.
- Số 5 : Dõng La (trên mí mắt bên phải), thường bi lụy trước những hoàn cảnh bi ai của người khác, và cũng thường tự tủi thân một mình.
- Số 6 : Tâm Hảo (dưới mắt bên trái), chịu đau khổ một mình, không muốn tâm sự cho ai biết.
- Số 7 : La Thiên (dưới mép miệng trái), người có duyên ăn nói, nhưng lại kín đáo trong bộc lộ tình cảm.
- Số 8 : Nguyệt Lão (trên vai trái), rất long đong lận đận vê tình duyên, gia đạo. Nhưng sợi dây tơ hồng đã buột đành chấp nhận khổ đau.
- Số 9 : Hoa Sơn (gò má trái), có số chết bất đắc kỳ tử, tính tình bí hiểm không bộc lộ cho người khác biết.
- Số 10 : Tuyệt Luân (bên mép trái), có đường sát phu thê, tâm tính lại nhẹ dạ tin người.
- Số 11 : Tả Phận (tay trái cận nách), thường trở thành “trai cô gái quả” sớm, nên đường tình duyên gặp trắc trở cho đến chết.
- Số 12 : Trung Phận (gần cổ tay trái), có nhiều tham vọng, thường “đứng núi này trông núi nọ”, tính tình thích đua đòi, và thích hưởng thụ.
- Số 13 : Hạ Phận (trên mu bàn tay trái), có tính bạc tình, bạc nghĩa, sống lãng mạn, nhưng làm ra của cải vật chất cũng nhiều.
- Số 14 : Trung Sơn (bên ngực sát vú trái), đẻ con nhiều nhưng vẫn sầu đau về đường gia đạo.
- Số 15 : Đỉnh Sơn (trên ngực trái), thay chồng đổi vợ dễ như thay áo.
- Số 16 : Hoa Tý (bên hông trái), con người chịu luồn cúi nịnh hót để đạt mục đích (theo dạng Hàn Tín), nhưng trong tình cảm lại ít bộc lộ cho đối tượng biết.
- Số 17 : Hiền Mẫu (năm ở vòng eo trái), tính tình hiền lành, chung thủy trong đời sống vợ chồng.
- Số 18 : Trung Vĩ (ngay rún) có tính bảo thủ, hay đố kỵ người hơn mình, cuộc sống gian nan cực khổ.
- Số 19 : Hạ Hôn (trên bẹn trái), hay ghen tuông, lãng mạn, có đời sống tình dục mạnh mẻ.
- Số 20 : Hoan Du (dưới bẹn trái) người can đảm, thích khẩu chiến, hay nói lý lẽ.
- Số 21 : Đãng Dục (ngay bộ phận sinh dục), người này thường vui say hưởng thụ thú xác thịt. Nốt ruồi son nằm trong da quy đầu lại sinh con quý tử.
- Số 22 : Thiều Manh (nơi đầu gối trái), hay gặp tai nạn, có người bị thành tật.
- Số 23 và 25 : Hạ Giới (trên cổ chân trái và chân phải), thích đi xa, phiêu lưu mạo hiểm.
- Số 24 : Lầu Xanh (trên mu bàn chân trái), tâm hồn trác táng, buông thả, cuối đời thân thể bệ rạc.
- Số 26 : Hoàn Dục (nơi đầu gối phải), thường không may mắn trên đường công danh, sự nghiệp.
- Số 27 : Vĩ Trung (dưới bẹn bên phải), thường hay đau ốm, tình cảm trở nên khô khan.
- Số 28 : Hoại phu thê (ngay ức), có số đưa vợ hay đưa chồng vào đường lầm lỗi.
- Số 29 : Ngữu Vĩ (bên hông phải), phụ nữ sinh đẻ gặp khó khăn, đàn ông gặp hiếm muộn.
- Số 30 : Trung Hòa (bên ngực gần vú phải), người có nốt ruồi này chật vật mới đủ sống, “bôn ba không qua thời  nốt ruồi này.
- Số 31 : Xuất Thể (trên mu bàn tay phải), thường lo sợ viễn vông, nên có lúc như người mất định hướng.
- Số 32 : Hạ Phận (dưới khủy tay phải), hay gắt gỏng, tính tình bất nhất.
- Số 33 : Trung Phận (trên khủy tay phải), tình cảm vợ chồng như tạm bợ sống nhờ vào nhau, cho nên gia đình không có hạnh phúc.
- Số 34 : Hữu Phận (trên vai bên phải), người đa tình, tính tính lã lơi cợt nhã với người khác phái.
- Số 35 : Bạc Hào (bên mép miệng phải), luôn nghĩ đến tiền và danh phận hơn tình cảm.
- Số 36 : Thiên Căn (gò má phải), người hiên hâu nhưng không may măn trong cuôc sông.
- Số 37 : Hậu Vĩ (dưới mắt bên phải), tâm sự đa đoan, thường phải khóc thầm.
Như đã nói 37 nốt ruồi trên đây chưa đại diện đủ tính chất của mọi dự báo, về các điềm bí ẩn trên thân thể, như chỉ trên khuôn mặt đã có ít nhất trên 40 nốt ruồi khác nhau xuất hiện.
C Not ruoi 2 ongHình 2 cho thấy trên khuôn mặt một người đàn ông thường hiện ra khoảng 41 nốt ruồi tại những nơi sau :
1- Hại cha mẹ, 2- Thích làm quan, 3- Làm quan to, 4- Chết vì tai nạn, 5- Không hợp nghề võ, 6- Số mất của, 7- Cuộc sống đầy phiền não, 8- Đi sông biển hãy coi chừng, 9- Mọi sự hanh thông, 10- Chuyện làm ăn hay gặp thất bại.
11- Quý tướng,12- Giàu có, 13 – Có địa vị̣, 14- Không nên đi sông biển, 15- Không tốt , 16 – Tán tài, 17- Sát thê, 18- Ít con, 19- Hay tủi thân, 20- Mất cha.
21- Khổ vì vợ, 22- Mê cờ bạc nên  tự hại mình, 23- Điềm con cái mất trước cha, 24- Tuyệt tự, 25- Ít con cái, 26- Xảo quyệt, 27- Thường gặp tai nạn, 28- Khi chết xa quê hương, 29- Không nên nuôi thú vật, 30- Ách giữa đàng mang vào cổ.
31- Gặp tai nạn từ sông nước, 32- Có của hoạnh tài, 33- Thông minh, lanh lẹ, 34- Thường rượu chè say sưa, 35 Gặp chuyện tốt đẹp, 36- Người hiền lành, 37- Số làm quan to (nếu ẩn dưới cằm), 38 – 39 – 40 và 41 đều tốt mọi sự (nếu nốt ruồi son, hay ẩn được hưởng phúc đức ba đời).
C Not ruoi 3 baHình 3 là khuôn mặt một phụ nữ, có 42 nốt ruồi được diễn giải như sau :
1- Số làm mệnh phụ, 2- Thường chán chồng nhưng không đi tìm của lạ, 3- Hại cha mẹ, 4- Không người phục dịch, 5- Có từ hai đời chồng, sanh con ít, 6- Hại người thân, 7, 15, 19, 27.37-Hại chồng, 8- Chết xa nhà, 9- Bị chồng phụ tình bỏ rơi, 10- Sanh khó.
11- Có tài lộc, 12- Chồng thường xa nhà, 13, 17- Vượng phu ích tử, 14- Số có “thiên la địa võng” giăng coi chừng tù tội, 16- Tay làm hàm nhai, 18- Được nhờ con, 20- Sống thọ.
21- Bị cướp giật nhiều lần, 22- Gặp nhiều việc tốt, 23- Tính lăn loàn, 24- Sanh ít con, 25- Mới sinh ra thường hay bệnh, 26- Mọi việc thất bại,28- Số sát phu, tình duyên lận đận, 29- Hiếu thảo với cha mẹ, hay giúp đỡ anh chị em, 30- Biết nhường nhịn chồng con.
31- Có tư tưởng tự tử, 32- Hay ganh tỵ với kẻ khác, 33, 41- Đề phòng tai nạn đường sông nước, 34- Có số sinh đôi, sinh ba, 35- Có hư thai, 36- Tai tiếng thị phi, 38- Đày đọa đầy tớ vì ghen tuông, 39- Gặp tai nạn tại nhà, 40- Hay bệnh hoạn, 42- Sát Phu và 43- Khôn vặt.
Địa điểm các nốt ruồi mọc còn rất nhiều nơi trên thân thể, các sách cổ tướng học có ghi :
- Lưu Bang (nhà tiền Hán) có đến 72 nốt ruồi đen mọc nơi đùi trái, nên từ kẻ thất học trở thành Hoàng đế nước Trung Hoa sau thời kỳ Tần Thủy Hoàng.
- Tướng An Lộc Sơn thời nhà Đường, dưới lòng bàn chân đều có nốt ruồi đen. Trở thành tướng tài nhưng cũng lụy vì tình mà chết dưới chân Dương Quý Phi.
- Võ Tắc Thiên hậu Chu, người phụ nữ đầu tiên của nước Trung Hoa, nắm giang sơn xã tắc trong nhiều năm dài là nhờ có 7 nốt ruồi son mọc bên sườn trái (có sách nói bên vú trái).
Có một số nốt ruồi mọc nhưng trong sách tướng pháp ít không nói đến, tuy vậy các nhà tướng số vẫn đưa ra những lời giải thích :
Nốt ruồi mọc ở Cao Quảng số hại cha mẹ; ở Phụ giác, Kiếp môn, Hổ giác chủ về chết trận, chết vì gươm đao, tên bay đạn lạc; ở Biên địa, Xích dương, Ngư vĩ chủ về chết đường chết chợ; ở Sơn lâm, Thanh lộ đi đường bị súc vật làm tổn hại thân thể; ở Thái dương chủ về số có chồng hay vợ chung thủy, giàu sang; ở Phu tòa, Thuê tòa chồng hay vợ chết sớm; ở Trưởng nam, trung nam và thứ nam cha mẹ khắc con trưởng, con thứ; ở Kim quỹ gặp tán gia bại sản; ở Thượng mộ mất chức quyền; ở Học đường là người thất học; ở Mạng môn chủ về hỏa tai đề phòng cháy nổ v.v…

* Lưu ý: Bài viết mang tính chất chiêm nghiệm...
0

C Not ruoi 3 baXEM  NÚT RUỒI SANG HÈN

- Bài Thiên Việt
Nốt ruồi là những chấm có màu sắc đen, nâu, xanh hay đỏ hồng (nốt ruồi son), nổi trên toàn thân người, còn không nổi mà bằng phẳng có những màu đen xám, xanh vàng, to gấp nhiều lần nốt ruồi gọi là bớt.
Theo khoa học phân tích :
- Nốt ruồi màu nâu, đen là do những tế bào có sắc tố tập trung lớp ngoài da tạo nên.
- Nốt ruồi xanh do những tế bào sắc tố dưới lớp chân lông tạo thành.
- Nốt ruồi đỏ hồng do những vi huyết quản phình lên mà có, là những chấm nhỏ màu đỏ, thường xuất hiện nhiều ở vuùng ngực, trên da mặt.
Chúng ta có thể tẩy dễ dàng những loại nốt ruồi màu nâu, đen vì ở ngoài da. Còn màu xanh hay đỏ, nếu tẩy sẽ gây ra những vết thẹo nhỏ.
Nhiều người vì mê tín mà đem tẩy những nốt ruồi to xuât hiện trên khuôn mặt, nhưng không hiểu tính chất của từng loại nốt ruồi đâm làm tổn thương đến chính bản thân. Trong tướng pháp nói rằng :
- Con người sinh ra những nốt ruồi như núi sinh ra cây cỏ, đất nổi đồi gò. Núi đẹp thì cây đẹp, đất xấu thì gò đồi xấu xí. Nên người có tố chất đẹp thì sẽ sinh ra những nốt ruồi đẹp đẻ, duyên dáng, còn có tố chất xấu thì nốt ruồi biểu hiện tính chất xấu của nó.
Cho nên những cái xấu cần phải ẩn nơi kín đáo, không đê lộ và đôi khi trở thành nốt ruồi ẩn tướng, mọi người khó có thể suy đoán ra tính tình, cốt cách. Còn những nốt ruồi son mà ẩn thuộc quý tướng. Nốt ruồi đen mà lộ quá nhiều là điềm hung, ẩn nơi kín đáo là kiết. Mọc trên mặt nhiều là hại bất cập lợi; nốt ruồi đen thì phải thật đen tránh màu nâu hay xám tro, còn nốt ruồi son phải đỏ như chu sa mới tốt.
Đen pha đỏ là nâu, chủ về người thích tranh cãi, biện luận; pha màu trắng thành màu xám tro, chủ về tai nạn, bệnh tật; pha màu vàng ra xanh đục, chủ về đảng trí.
Sách “Thần tướng toàn biên” khi nói về nốt ruồi :
- Mọc ở đầu và mặt : mọc ngay giữa trán là chủ phú quý, gần thiên đình là cực quý. Trên trán có 7 nốt ruồi đen chủ đại phú, đại quý. Mọc ngay Thiên trung thì hại cha, ngay Ấn đường là hại mẹ, ở Tư không thì hại cả cha lẫn mẹ.
- Mọc hai bên vành tai chủ về trí tuệ, thông minh, trong tai là chủ sống thọ, nếu bên tai trái chủ về tiền của.
- Mọc ở khoé mắt làm tướng lục lâm thảo khấu, trên con mắt mọc nhiều là khốn khổ, dưới con mắt là có lộc bất ngờ, trong lông mày chủ về công danh, phú quý.
- Mọc ở Sơn căn chủ về nghiệp binh đao “sinh nghề tử nghiệp”; mọc bên mũi đau khổ đẫm lệ, trên sống mũi suốt đời truân chuyên, trì trệ; ở chuẩn đầu mũi đề phòng chết vì súng đạn, gươm đao.
- Mọc ở Nhơn trung dễ cưới vợ lấy chồng giàu sang, bên mép miệng khó giữ được của cải, mất địa vị. Trên môi chủ về lộc ăn, dưới môi là phá của. Trên lưỡi là hay loạn ngôn…
Trong tướng pháp cho rằng, nốt ruồi mọc trên thân thể con người được chia làm ba phần :
Một ở đầu và mặt, hai ở tay chân và ba ở hai phần trên dưới hạ bộ.
Về phần đầu và mặt lại chia ra những vùng nhỏ phức tạp, như cùng với tóc, nốt ruồi mọc trong tóc là ẩn, chủ về giàu sang phú phú, trường thọ, càng lên đỉnh đâu càng quý tướng. Trên trán có “thất tinh” chủ về đại phú, đại quý…
Đây là phần quan trọng, chủ yếu trong cách xem nốt ruôi, còn tay chân không quan trọng, chỉ nên thêm phần trên dưới hạ bô, tức từ rún (rốn) trở xuông bẹn là cần xem.
C Not ruoi 1 thanSau đây là những nốt ruôi mọc trên thân thể (hình 1) :
- Toàn thân mỗi người thường hiện ra những nốt ruồi nhỏ, trong đó biểu hiện nốt ruồi son là tốt, còn đen tùy theo điểm mọc mới biết cát hung. Nốt ruồi ẩn là tốt, lộ ra là bình thường. Nốt ruồi càng to càng thể hiện tính cách trong cuộc sông; nốt ruồi càng rõ ràng là sự khẳng định, còn mờ nhạt là không chắc chắn trong dự đoán. Thông thường nốt ruồi chỉ mọc thêm chứ ít khi lặn, nếu phá đi chưa phải đã giải được hạn.
37 loại nốt ruồi được giải thích sau đây chỉ đại diện cho hàng trăm nốt ruồi mọc trên thân thể.
Hình 1 bao gồm những nốt ruồi chủ yếu, nếu nằm lệch hay sai vị trí chừng 5 ly, hoặc đối nhau mà không có số chú giải được xem có cùng một tên :
- Số 1 : Nốt ruồi có tên Trung tinh đình (trán bên phải), có quyền thế, tài lộc trên đường công danh sự nghiệp, sống lâu, gặp tai ương cũng vượt qua.
- Số 2 : Tả trung đình (trán bên trái), sống không sung sướng, thường dang dở về tình yêu và trong hạnh phúc gia đình gặp bế tắc.
- Số 3 : Hoạt sào (trên mí mắt bên trái), là nốt ruồi báo cho biết tâm lý thường hay đa cảm, đa sầu. Nhưng đường tình cảm thường bộc lộ ra mặt.
- Số 4 : Trung Thiên (ngay giữa trán), người chịu sửa chữa, phục thiện sau khi gây ra lỗi lầm.
- Số 5 : Dõng La (trên mí mắt bên phải), thường bi lụy trước những hoàn cảnh bi ai của người khác, và cũng thường tự tủi thân một mình.
- Số 6 : Tâm Hảo (dưới mắt bên trái), chịu đau khổ một mình, không muốn tâm sự cho ai biết.
- Số 7 : La Thiên (dưới mép miệng trái), người có duyên ăn nói, nhưng lại kín đáo trong bộc lộ tình cảm.
- Số 8 : Nguyệt Lão (trên vai trái), rất long đong lận đận vê tình duyên, gia đạo. Nhưng sợi dây tơ hồng đã buột đành chấp nhận khổ đau.
- Số 9 : Hoa Sơn (gò má trái), có số chết bất đắc kỳ tử, tính tình bí hiểm không bộc lộ cho người khác biết.
- Số 10 : Tuyệt Luân (bên mép trái), có đường sát phu thê, tâm tính lại nhẹ dạ tin người.
- Số 11 : Tả Phận (tay trái cận nách), thường trở thành “trai cô gái quả” sớm, nên đường tình duyên gặp trắc trở cho đến chết.
- Số 12 : Trung Phận (gần cổ tay trái), có nhiều tham vọng, thường “đứng núi này trông núi nọ”, tính tình thích đua đòi, và thích hưởng thụ.
- Số 13 : Hạ Phận (trên mu bàn tay trái), có tính bạc tình, bạc nghĩa, sống lãng mạn, nhưng làm ra của cải vật chất cũng nhiều.
- Số 14 : Trung Sơn (bên ngực sát vú trái), đẻ con nhiều nhưng vẫn sầu đau về đường gia đạo.
- Số 15 : Đỉnh Sơn (trên ngực trái), thay chồng đổi vợ dễ như thay áo.
- Số 16 : Hoa Tý (bên hông trái), con người chịu luồn cúi nịnh hót để đạt mục đích (theo dạng Hàn Tín), nhưng trong tình cảm lại ít bộc lộ cho đối tượng biết.
- Số 17 : Hiền Mẫu (năm ở vòng eo trái), tính tình hiền lành, chung thủy trong đời sống vợ chồng.
- Số 18 : Trung Vĩ (ngay rún) có tính bảo thủ, hay đố kỵ người hơn mình, cuộc sống gian nan cực khổ.
- Số 19 : Hạ Hôn (trên bẹn trái), hay ghen tuông, lãng mạn, có đời sống tình dục mạnh mẻ.
- Số 20 : Hoan Du (dưới bẹn trái) người can đảm, thích khẩu chiến, hay nói lý lẽ.
- Số 21 : Đãng Dục (ngay bộ phận sinh dục), người này thường vui say hưởng thụ thú xác thịt. Nốt ruồi son nằm trong da quy đầu lại sinh con quý tử.
- Số 22 : Thiều Manh (nơi đầu gối trái), hay gặp tai nạn, có người bị thành tật.
- Số 23 và 25 : Hạ Giới (trên cổ chân trái và chân phải), thích đi xa, phiêu lưu mạo hiểm.
- Số 24 : Lầu Xanh (trên mu bàn chân trái), tâm hồn trác táng, buông thả, cuối đời thân thể bệ rạc.
- Số 26 : Hoàn Dục (nơi đầu gối phải), thường không may mắn trên đường công danh, sự nghiệp.
- Số 27 : Vĩ Trung (dưới bẹn bên phải), thường hay đau ốm, tình cảm trở nên khô khan.
- Số 28 : Hoại phu thê (ngay ức), có số đưa vợ hay đưa chồng vào đường lầm lỗi.
- Số 29 : Ngữu Vĩ (bên hông phải), phụ nữ sinh đẻ gặp khó khăn, đàn ông gặp hiếm muộn.
- Số 30 : Trung Hòa (bên ngực gần vú phải), người có nốt ruồi này chật vật mới đủ sống, “bôn ba không qua thời  nốt ruồi này.
- Số 31 : Xuất Thể (trên mu bàn tay phải), thường lo sợ viễn vông, nên có lúc như người mất định hướng.
- Số 32 : Hạ Phận (dưới khủy tay phải), hay gắt gỏng, tính tình bất nhất.
- Số 33 : Trung Phận (trên khủy tay phải), tình cảm vợ chồng như tạm bợ sống nhờ vào nhau, cho nên gia đình không có hạnh phúc.
- Số 34 : Hữu Phận (trên vai bên phải), người đa tình, tính tính lã lơi cợt nhã với người khác phái.
- Số 35 : Bạc Hào (bên mép miệng phải), luôn nghĩ đến tiền và danh phận hơn tình cảm.
- Số 36 : Thiên Căn (gò má phải), người hiên hâu nhưng không may măn trong cuôc sông.
- Số 37 : Hậu Vĩ (dưới mắt bên phải), tâm sự đa đoan, thường phải khóc thầm.
Như đã nói 37 nốt ruồi trên đây chưa đại diện đủ tính chất của mọi dự báo, về các điềm bí ẩn trên thân thể, như chỉ trên khuôn mặt đã có ít nhất trên 40 nốt ruồi khác nhau xuất hiện.
C Not ruoi 2 ongHình 2 cho thấy trên khuôn mặt một người đàn ông thường hiện ra khoảng 41 nốt ruồi tại những nơi sau :
1- Hại cha mẹ, 2- Thích làm quan, 3- Làm quan to, 4- Chết vì tai nạn, 5- Không hợp nghề võ, 6- Số mất của, 7- Cuộc sống đầy phiền não, 8- Đi sông biển hãy coi chừng, 9- Mọi sự hanh thông, 10- Chuyện làm ăn hay gặp thất bại.
11- Quý tướng,12- Giàu có, 13 – Có địa vị̣, 14- Không nên đi sông biển, 15- Không tốt , 16 – Tán tài, 17- Sát thê, 18- Ít con, 19- Hay tủi thân, 20- Mất cha.
21- Khổ vì vợ, 22- Mê cờ bạc nên  tự hại mình, 23- Điềm con cái mất trước cha, 24- Tuyệt tự, 25- Ít con cái, 26- Xảo quyệt, 27- Thường gặp tai nạn, 28- Khi chết xa quê hương, 29- Không nên nuôi thú vật, 30- Ách giữa đàng mang vào cổ.
31- Gặp tai nạn từ sông nước, 32- Có của hoạnh tài, 33- Thông minh, lanh lẹ, 34- Thường rượu chè say sưa, 35 Gặp chuyện tốt đẹp, 36- Người hiền lành, 37- Số làm quan to (nếu ẩn dưới cằm), 38 – 39 – 40 và 41 đều tốt mọi sự (nếu nốt ruồi son, hay ẩn được hưởng phúc đức ba đời).
C Not ruoi 3 baHình 3 là khuôn mặt một phụ nữ, có 42 nốt ruồi được diễn giải như sau :
1- Số làm mệnh phụ, 2- Thường chán chồng nhưng không đi tìm của lạ, 3- Hại cha mẹ, 4- Không người phục dịch, 5- Có từ hai đời chồng, sanh con ít, 6- Hại người thân, 7, 15, 19, 27.37-Hại chồng, 8- Chết xa nhà, 9- Bị chồng phụ tình bỏ rơi, 10- Sanh khó.
11- Có tài lộc, 12- Chồng thường xa nhà, 13, 17- Vượng phu ích tử, 14- Số có “thiên la địa võng” giăng coi chừng tù tội, 16- Tay làm hàm nhai, 18- Được nhờ con, 20- Sống thọ.
21- Bị cướp giật nhiều lần, 22- Gặp nhiều việc tốt, 23- Tính lăn loàn, 24- Sanh ít con, 25- Mới sinh ra thường hay bệnh, 26- Mọi việc thất bại,28- Số sát phu, tình duyên lận đận, 29- Hiếu thảo với cha mẹ, hay giúp đỡ anh chị em, 30- Biết nhường nhịn chồng con.
31- Có tư tưởng tự tử, 32- Hay ganh tỵ với kẻ khác, 33, 41- Đề phòng tai nạn đường sông nước, 34- Có số sinh đôi, sinh ba, 35- Có hư thai, 36- Tai tiếng thị phi, 38- Đày đọa đầy tớ vì ghen tuông, 39- Gặp tai nạn tại nhà, 40- Hay bệnh hoạn, 42- Sát Phu và 43- Khôn vặt.
Địa điểm các nốt ruồi mọc còn rất nhiều nơi trên thân thể, các sách cổ tướng học có ghi :
- Lưu Bang (nhà tiền Hán) có đến 72 nốt ruồi đen mọc nơi đùi trái, nên từ kẻ thất học trở thành Hoàng đế nước Trung Hoa sau thời kỳ Tần Thủy Hoàng.
- Tướng An Lộc Sơn thời nhà Đường, dưới lòng bàn chân đều có nốt ruồi đen. Trở thành tướng tài nhưng cũng lụy vì tình mà chết dưới chân Dương Quý Phi.
- Võ Tắc Thiên hậu Chu, người phụ nữ đầu tiên của nước Trung Hoa, nắm giang sơn xã tắc trong nhiều năm dài là nhờ có 7 nốt ruồi son mọc bên sườn trái (có sách nói bên vú trái).
Có một số nốt ruồi mọc nhưng trong sách tướng pháp ít không nói đến, tuy vậy các nhà tướng số vẫn đưa ra những lời giải thích :
Nốt ruồi mọc ở Cao Quảng số hại cha mẹ; ở Phụ giác, Kiếp môn, Hổ giác chủ về chết trận, chết vì gươm đao, tên bay đạn lạc; ở Biên địa, Xích dương, Ngư vĩ chủ về chết đường chết chợ; ở Sơn lâm, Thanh lộ đi đường bị súc vật làm tổn hại thân thể; ở Thái dương chủ về số có chồng hay vợ chung thủy, giàu sang; ở Phu tòa, Thuê tòa chồng hay vợ chết sớm; ở Trưởng nam, trung nam và thứ nam cha mẹ khắc con trưởng, con thứ; ở Kim quỹ gặp tán gia bại sản; ở Thượng mộ mất chức quyền; ở Học đường là người thất học; ở Mạng môn chủ về hỏa tai đề phòng cháy nổ v.v…

* Lưu ý: Bài viết mang tính chất chiêm nghiệm...
0

C Not ruoi 3 baXEM  NÚT RUỒI SANG HÈN

- Bài Thiên Việt
Nốt ruồi là những chấm có màu sắc đen, nâu, xanh hay đỏ hồng (nốt ruồi son), nổi trên toàn thân người, còn không nổi mà bằng phẳng có những màu đen xám, xanh vàng, to gấp nhiều lần nốt ruồi gọi là bớt.
Theo khoa học phân tích :
- Nốt ruồi màu nâu, đen là do những tế bào có sắc tố tập trung lớp ngoài da tạo nên.
- Nốt ruồi xanh do những tế bào sắc tố dưới lớp chân lông tạo thành.
- Nốt ruồi đỏ hồng do những vi huyết quản phình lên mà có, là những chấm nhỏ màu đỏ, thường xuất hiện nhiều ở vuùng ngực, trên da mặt.
Chúng ta có thể tẩy dễ dàng những loại nốt ruồi màu nâu, đen vì ở ngoài da. Còn màu xanh hay đỏ, nếu tẩy sẽ gây ra những vết thẹo nhỏ.
Nhiều người vì mê tín mà đem tẩy những nốt ruồi to xuât hiện trên khuôn mặt, nhưng không hiểu tính chất của từng loại nốt ruồi đâm làm tổn thương đến chính bản thân. Trong tướng pháp nói rằng :
- Con người sinh ra những nốt ruồi như núi sinh ra cây cỏ, đất nổi đồi gò. Núi đẹp thì cây đẹp, đất xấu thì gò đồi xấu xí. Nên người có tố chất đẹp thì sẽ sinh ra những nốt ruồi đẹp đẻ, duyên dáng, còn có tố chất xấu thì nốt ruồi biểu hiện tính chất xấu của nó.
Cho nên những cái xấu cần phải ẩn nơi kín đáo, không đê lộ và đôi khi trở thành nốt ruồi ẩn tướng, mọi người khó có thể suy đoán ra tính tình, cốt cách. Còn những nốt ruồi son mà ẩn thuộc quý tướng. Nốt ruồi đen mà lộ quá nhiều là điềm hung, ẩn nơi kín đáo là kiết. Mọc trên mặt nhiều là hại bất cập lợi; nốt ruồi đen thì phải thật đen tránh màu nâu hay xám tro, còn nốt ruồi son phải đỏ như chu sa mới tốt.
Đen pha đỏ là nâu, chủ về người thích tranh cãi, biện luận; pha màu trắng thành màu xám tro, chủ về tai nạn, bệnh tật; pha màu vàng ra xanh đục, chủ về đảng trí.
Sách “Thần tướng toàn biên” khi nói về nốt ruồi :
- Mọc ở đầu và mặt : mọc ngay giữa trán là chủ phú quý, gần thiên đình là cực quý. Trên trán có 7 nốt ruồi đen chủ đại phú, đại quý. Mọc ngay Thiên trung thì hại cha, ngay Ấn đường là hại mẹ, ở Tư không thì hại cả cha lẫn mẹ.
- Mọc hai bên vành tai chủ về trí tuệ, thông minh, trong tai là chủ sống thọ, nếu bên tai trái chủ về tiền của.
- Mọc ở khoé mắt làm tướng lục lâm thảo khấu, trên con mắt mọc nhiều là khốn khổ, dưới con mắt là có lộc bất ngờ, trong lông mày chủ về công danh, phú quý.
- Mọc ở Sơn căn chủ về nghiệp binh đao “sinh nghề tử nghiệp”; mọc bên mũi đau khổ đẫm lệ, trên sống mũi suốt đời truân chuyên, trì trệ; ở chuẩn đầu mũi đề phòng chết vì súng đạn, gươm đao.
- Mọc ở Nhơn trung dễ cưới vợ lấy chồng giàu sang, bên mép miệng khó giữ được của cải, mất địa vị. Trên môi chủ về lộc ăn, dưới môi là phá của. Trên lưỡi là hay loạn ngôn…
Trong tướng pháp cho rằng, nốt ruồi mọc trên thân thể con người được chia làm ba phần :
Một ở đầu và mặt, hai ở tay chân và ba ở hai phần trên dưới hạ bộ.
Về phần đầu và mặt lại chia ra những vùng nhỏ phức tạp, như cùng với tóc, nốt ruồi mọc trong tóc là ẩn, chủ về giàu sang phú phú, trường thọ, càng lên đỉnh đâu càng quý tướng. Trên trán có “thất tinh” chủ về đại phú, đại quý…
Đây là phần quan trọng, chủ yếu trong cách xem nốt ruôi, còn tay chân không quan trọng, chỉ nên thêm phần trên dưới hạ bô, tức từ rún (rốn) trở xuông bẹn là cần xem.
C Not ruoi 1 thanSau đây là những nốt ruôi mọc trên thân thể (hình 1) :
- Toàn thân mỗi người thường hiện ra những nốt ruồi nhỏ, trong đó biểu hiện nốt ruồi son là tốt, còn đen tùy theo điểm mọc mới biết cát hung. Nốt ruồi ẩn là tốt, lộ ra là bình thường. Nốt ruồi càng to càng thể hiện tính cách trong cuộc sông; nốt ruồi càng rõ ràng là sự khẳng định, còn mờ nhạt là không chắc chắn trong dự đoán. Thông thường nốt ruồi chỉ mọc thêm chứ ít khi lặn, nếu phá đi chưa phải đã giải được hạn.
37 loại nốt ruồi được giải thích sau đây chỉ đại diện cho hàng trăm nốt ruồi mọc trên thân thể.
Hình 1 bao gồm những nốt ruồi chủ yếu, nếu nằm lệch hay sai vị trí chừng 5 ly, hoặc đối nhau mà không có số chú giải được xem có cùng một tên :
- Số 1 : Nốt ruồi có tên Trung tinh đình (trán bên phải), có quyền thế, tài lộc trên đường công danh sự nghiệp, sống lâu, gặp tai ương cũng vượt qua.
- Số 2 : Tả trung đình (trán bên trái), sống không sung sướng, thường dang dở về tình yêu và trong hạnh phúc gia đình gặp bế tắc.
- Số 3 : Hoạt sào (trên mí mắt bên trái), là nốt ruồi báo cho biết tâm lý thường hay đa cảm, đa sầu. Nhưng đường tình cảm thường bộc lộ ra mặt.
- Số 4 : Trung Thiên (ngay giữa trán), người chịu sửa chữa, phục thiện sau khi gây ra lỗi lầm.
- Số 5 : Dõng La (trên mí mắt bên phải), thường bi lụy trước những hoàn cảnh bi ai của người khác, và cũng thường tự tủi thân một mình.
- Số 6 : Tâm Hảo (dưới mắt bên trái), chịu đau khổ một mình, không muốn tâm sự cho ai biết.
- Số 7 : La Thiên (dưới mép miệng trái), người có duyên ăn nói, nhưng lại kín đáo trong bộc lộ tình cảm.
- Số 8 : Nguyệt Lão (trên vai trái), rất long đong lận đận vê tình duyên, gia đạo. Nhưng sợi dây tơ hồng đã buột đành chấp nhận khổ đau.
- Số 9 : Hoa Sơn (gò má trái), có số chết bất đắc kỳ tử, tính tình bí hiểm không bộc lộ cho người khác biết.
- Số 10 : Tuyệt Luân (bên mép trái), có đường sát phu thê, tâm tính lại nhẹ dạ tin người.
- Số 11 : Tả Phận (tay trái cận nách), thường trở thành “trai cô gái quả” sớm, nên đường tình duyên gặp trắc trở cho đến chết.
- Số 12 : Trung Phận (gần cổ tay trái), có nhiều tham vọng, thường “đứng núi này trông núi nọ”, tính tình thích đua đòi, và thích hưởng thụ.
- Số 13 : Hạ Phận (trên mu bàn tay trái), có tính bạc tình, bạc nghĩa, sống lãng mạn, nhưng làm ra của cải vật chất cũng nhiều.
- Số 14 : Trung Sơn (bên ngực sát vú trái), đẻ con nhiều nhưng vẫn sầu đau về đường gia đạo.
- Số 15 : Đỉnh Sơn (trên ngực trái), thay chồng đổi vợ dễ như thay áo.
- Số 16 : Hoa Tý (bên hông trái), con người chịu luồn cúi nịnh hót để đạt mục đích (theo dạng Hàn Tín), nhưng trong tình cảm lại ít bộc lộ cho đối tượng biết.
- Số 17 : Hiền Mẫu (năm ở vòng eo trái), tính tình hiền lành, chung thủy trong đời sống vợ chồng.
- Số 18 : Trung Vĩ (ngay rún) có tính bảo thủ, hay đố kỵ người hơn mình, cuộc sống gian nan cực khổ.
- Số 19 : Hạ Hôn (trên bẹn trái), hay ghen tuông, lãng mạn, có đời sống tình dục mạnh mẻ.
- Số 20 : Hoan Du (dưới bẹn trái) người can đảm, thích khẩu chiến, hay nói lý lẽ.
- Số 21 : Đãng Dục (ngay bộ phận sinh dục), người này thường vui say hưởng thụ thú xác thịt. Nốt ruồi son nằm trong da quy đầu lại sinh con quý tử.
- Số 22 : Thiều Manh (nơi đầu gối trái), hay gặp tai nạn, có người bị thành tật.
- Số 23 và 25 : Hạ Giới (trên cổ chân trái và chân phải), thích đi xa, phiêu lưu mạo hiểm.
- Số 24 : Lầu Xanh (trên mu bàn chân trái), tâm hồn trác táng, buông thả, cuối đời thân thể bệ rạc.
- Số 26 : Hoàn Dục (nơi đầu gối phải), thường không may mắn trên đường công danh, sự nghiệp.
- Số 27 : Vĩ Trung (dưới bẹn bên phải), thường hay đau ốm, tình cảm trở nên khô khan.
- Số 28 : Hoại phu thê (ngay ức), có số đưa vợ hay đưa chồng vào đường lầm lỗi.
- Số 29 : Ngữu Vĩ (bên hông phải), phụ nữ sinh đẻ gặp khó khăn, đàn ông gặp hiếm muộn.
- Số 30 : Trung Hòa (bên ngực gần vú phải), người có nốt ruồi này chật vật mới đủ sống, “bôn ba không qua thời  nốt ruồi này.
- Số 31 : Xuất Thể (trên mu bàn tay phải), thường lo sợ viễn vông, nên có lúc như người mất định hướng.
- Số 32 : Hạ Phận (dưới khủy tay phải), hay gắt gỏng, tính tình bất nhất.
- Số 33 : Trung Phận (trên khủy tay phải), tình cảm vợ chồng như tạm bợ sống nhờ vào nhau, cho nên gia đình không có hạnh phúc.
- Số 34 : Hữu Phận (trên vai bên phải), người đa tình, tính tính lã lơi cợt nhã với người khác phái.
- Số 35 : Bạc Hào (bên mép miệng phải), luôn nghĩ đến tiền và danh phận hơn tình cảm.
- Số 36 : Thiên Căn (gò má phải), người hiên hâu nhưng không may măn trong cuôc sông.
- Số 37 : Hậu Vĩ (dưới mắt bên phải), tâm sự đa đoan, thường phải khóc thầm.
Như đã nói 37 nốt ruồi trên đây chưa đại diện đủ tính chất của mọi dự báo, về các điềm bí ẩn trên thân thể, như chỉ trên khuôn mặt đã có ít nhất trên 40 nốt ruồi khác nhau xuất hiện.
C Not ruoi 2 ongHình 2 cho thấy trên khuôn mặt một người đàn ông thường hiện ra khoảng 41 nốt ruồi tại những nơi sau :
1- Hại cha mẹ, 2- Thích làm quan, 3- Làm quan to, 4- Chết vì tai nạn, 5- Không hợp nghề võ, 6- Số mất của, 7- Cuộc sống đầy phiền não, 8- Đi sông biển hãy coi chừng, 9- Mọi sự hanh thông, 10- Chuyện làm ăn hay gặp thất bại.
11- Quý tướng,12- Giàu có, 13 – Có địa vị̣, 14- Không nên đi sông biển, 15- Không tốt , 16 – Tán tài, 17- Sát thê, 18- Ít con, 19- Hay tủi thân, 20- Mất cha.
21- Khổ vì vợ, 22- Mê cờ bạc nên  tự hại mình, 23- Điềm con cái mất trước cha, 24- Tuyệt tự, 25- Ít con cái, 26- Xảo quyệt, 27- Thường gặp tai nạn, 28- Khi chết xa quê hương, 29- Không nên nuôi thú vật, 30- Ách giữa đàng mang vào cổ.
31- Gặp tai nạn từ sông nước, 32- Có của hoạnh tài, 33- Thông minh, lanh lẹ, 34- Thường rượu chè say sưa, 35 Gặp chuyện tốt đẹp, 36- Người hiền lành, 37- Số làm quan to (nếu ẩn dưới cằm), 38 – 39 – 40 và 41 đều tốt mọi sự (nếu nốt ruồi son, hay ẩn được hưởng phúc đức ba đời).
C Not ruoi 3 baHình 3 là khuôn mặt một phụ nữ, có 42 nốt ruồi được diễn giải như sau :
1- Số làm mệnh phụ, 2- Thường chán chồng nhưng không đi tìm của lạ, 3- Hại cha mẹ, 4- Không người phục dịch, 5- Có từ hai đời chồng, sanh con ít, 6- Hại người thân, 7, 15, 19, 27.37-Hại chồng, 8- Chết xa nhà, 9- Bị chồng phụ tình bỏ rơi, 10- Sanh khó.
11- Có tài lộc, 12- Chồng thường xa nhà, 13, 17- Vượng phu ích tử, 14- Số có “thiên la địa võng” giăng coi chừng tù tội, 16- Tay làm hàm nhai, 18- Được nhờ con, 20- Sống thọ.
21- Bị cướp giật nhiều lần, 22- Gặp nhiều việc tốt, 23- Tính lăn loàn, 24- Sanh ít con, 25- Mới sinh ra thường hay bệnh, 26- Mọi việc thất bại,28- Số sát phu, tình duyên lận đận, 29- Hiếu thảo với cha mẹ, hay giúp đỡ anh chị em, 30- Biết nhường nhịn chồng con.
31- Có tư tưởng tự tử, 32- Hay ganh tỵ với kẻ khác, 33, 41- Đề phòng tai nạn đường sông nước, 34- Có số sinh đôi, sinh ba, 35- Có hư thai, 36- Tai tiếng thị phi, 38- Đày đọa đầy tớ vì ghen tuông, 39- Gặp tai nạn tại nhà, 40- Hay bệnh hoạn, 42- Sát Phu và 43- Khôn vặt.
Địa điểm các nốt ruồi mọc còn rất nhiều nơi trên thân thể, các sách cổ tướng học có ghi :
- Lưu Bang (nhà tiền Hán) có đến 72 nốt ruồi đen mọc nơi đùi trái, nên từ kẻ thất học trở thành Hoàng đế nước Trung Hoa sau thời kỳ Tần Thủy Hoàng.
- Tướng An Lộc Sơn thời nhà Đường, dưới lòng bàn chân đều có nốt ruồi đen. Trở thành tướng tài nhưng cũng lụy vì tình mà chết dưới chân Dương Quý Phi.
- Võ Tắc Thiên hậu Chu, người phụ nữ đầu tiên của nước Trung Hoa, nắm giang sơn xã tắc trong nhiều năm dài là nhờ có 7 nốt ruồi son mọc bên sườn trái (có sách nói bên vú trái).
Có một số nốt ruồi mọc nhưng trong sách tướng pháp ít không nói đến, tuy vậy các nhà tướng số vẫn đưa ra những lời giải thích :
Nốt ruồi mọc ở Cao Quảng số hại cha mẹ; ở Phụ giác, Kiếp môn, Hổ giác chủ về chết trận, chết vì gươm đao, tên bay đạn lạc; ở Biên địa, Xích dương, Ngư vĩ chủ về chết đường chết chợ; ở Sơn lâm, Thanh lộ đi đường bị súc vật làm tổn hại thân thể; ở Thái dương chủ về số có chồng hay vợ chung thủy, giàu sang; ở Phu tòa, Thuê tòa chồng hay vợ chết sớm; ở Trưởng nam, trung nam và thứ nam cha mẹ khắc con trưởng, con thứ; ở Kim quỹ gặp tán gia bại sản; ở Thượng mộ mất chức quyền; ở Học đường là người thất học; ở Mạng môn chủ về hỏa tai đề phòng cháy nổ v.v…

* Lưu ý: Bài viết mang tính chất chiêm nghiệm...
0
Happy for Business day .Happy Birthday my company.Happy Birthday for me. Nhân dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, Mình xin được gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới giới Doanh nhân Việt Nam trong ngày lễ đặc biệt này. Kính chúc những ước mơ xây dựng doanh nghiệp thành công và hoài bão tạo dựng được một cộng đồng kinh doanh Việt Nam lớn mạnh sớm trở thành hiện thực.
0
Happy for Business day .Happy Birthday my company.Happy Birthday for me. Nhân dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, Mình xin được gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới giới Doanh nhân Việt Nam trong ngày lễ đặc biệt này. Kính chúc những ước mơ xây dựng doanh nghiệp thành công và hoài bão tạo dựng được một cộng đồng kinh doanh Việt Nam lớn mạnh sớm trở thành hiện thực.
0
Happy for Business day .Happy Birthday my company.Happy Birthday for me. Nhân dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, Mình xin được gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới giới Doanh nhân Việt Nam trong ngày lễ đặc biệt này. Kính chúc những ước mơ xây dựng doanh nghiệp thành công và hoài bão tạo dựng được một cộng đồng kinh doanh Việt Nam lớn mạnh sớm trở thành hiện thực.
0
Công dụng của hạt methi
Hạt methi và tiểu đường
Hạt methi là một trong số ít dược thảo được WHO và nhiều quốc gia công nhận là có hoạt tính giúp hạ đường trong máụ. Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã giúp chứng minh khả năng hạ đường của hạt methi, khi thử trên thú vật và cả khi thử nghiệm lâm sàng nơi người (theo Phytotherapy Research số 12-1998).
Hạt methi có thể sử dụng đơn độc hay dùng phối hợp với vanadate, tạo ra một sự bình thường hóa các men glucose-6-phosphatase và fructose-1,6-biphosphatase trong gan và thận của người bị tiểu đường. Hoạt tính hạ đường tăng cao hơn khi dùng dưới dạng phối hợp. Hạt methi cũng có hoạt tính giúp bình thường hóa hoạt động của men glyoxalase I nơi gan của chuột bị tiểu đường (Indian Journal of Expe rimental Biology số 37-1999).
Khi cho chuột bình thường và chuột bị gây tiểu đường bằng alloxan dùng methi ở những liều 2 và 8g/kg hiệu ứng hạ glucose trong máu xảy ra rất rõ rệt, hiệu ứng này tùy thuộc vào liều sử dụng (Journal of Ethnopharmacology Số 75-2001).
Một thử nghiệm khác trên 21 bệnh nhân NIDM (Người bị tiểu đường không phụ thuộc vào insulin) ghi nhận liều 15gram hạt cho dùng một lần trong bữa ăn gây hạ glucose trong máu, và không gây những thay đổi về nồng độ insulin (Nutrition Research Số 16-1996).
Ngoài ra, cũng trong một thử nghiệm trên 15 bệnh nhân NIDM, cho dùng hạt methi đã loại chất béo trong 10 ngày, gây hạ glucose trong máu (nhịn ăn đêm trước) và giảm lượng glucose đào thải qua nước tiểu đến 64%. Thử nghiệm này cho rằng cơ chế tạo ra hạ đường trong máu của methi có thể do hiệu ứng của chất sơ dinh dưỡng (Soluble dietary fiber) trên sự hấp thu glucose nơi ruột và do sự cải thiện hoạt tính ngoại vi của insulin (Nutrition Research Số 10-1990; British Journal of Nutri tion Số 97-2007).
Hạt methi cũng làm giảm được một số triệu chứng của tiểu đường như khát nước, đi tiểu nhiều lần, yếu mệt và sụt cân.
Tại các bệnh viện ở Trung Hoa, Saponins tổng cộng trích từ hạt methi đã được dùng phối hợp với sulfonylurea để trị tiểu đường cho thấy sự phối hợp đem lại những kết quả rất tốt, giúp bệnh nhân giảm được sulfonylurea và kiểm soát được mức đường hữu hiệu hơn (Chinese Journal of Integrative Medicine Số 14-2008).
Hạt methi và cholesterol
Một số nghiên cứu thực nghiệm nơi chuột đã chứng minh được hoạt tính làm hạ cholesterol của methi (Current Science Số 51-1982). Hạt methi giúp ngừa gia tăng cholesterol nơi chuột cho ăn các thực phẩm hay một chế độ ăn uống chứa nhiều cholesterol (British Journal of Nutrition Số 69-1993).
Một acid amin đặc biệt trích từ methi: 4-hydroxyisoleucine có khả năng gây hạ triglycerides trong máu đến 33%, cholesterol tổng cộng đến 22% và acid béo tự do 14%, cùng với sự tăng tỷ lệ HDL-C/TC đến 39% khi thử trên chuột bị gây cao mỡ trong máu (Bio organic & Medicinal Chemistry Letters Số 15-2006)
Saponin loại steroid, trích từ hạt methi, thử nơi chuột, với liều mỗi ngày 12.5g/ 300g trọng lượng cơ thể làm hạ rõ rệt cholesterol trong huyết tương ở cả chuột bình thường lẫn chuột bị tiểu đường (Steroids Số 60-1995).
Hoạt tính chống sưng của methi
Hạt methi đã được nghiên cứu vế tác dụng chống sưng, thử nghiệm trên chuột lang (albino) bị gây viêm bằng các chất gây sưng khác nhau. Hoạt tính chống sưng được so sánh với sodium salicylate. Dịch chiết từ hạt bằng ether có hoạt tính mạnh nhất (Indian Drugs Số February 1982). Một thử nghiệm khác cũng trên chuột, bị gây đau bằng acid acetic, bằng nhiệt (bị đặt trên đĩa nung nóng), dịch chiết từ hạt methi được so sánh với pentazocine và diclofenac, kết quả ghi nhận phần tan trong nước của dịch chiết có hoạt tính chống sưng và làm giảm đau khá mạnh (Asian Pacific Journal of Clinical Nutrition Số 16-2007).
Khả năng kháng sinh
Methi đã được thử nghiệm về hoạt tính kháng sinh trên 26 loại vi trùng gây bệnh và cho thấy khả năng kháng sinh khá rộng, dầu béo và Phần không bị savon-hóa, trích từ hạt đều có hoạt tính kháng sinh khá mạnh (Natural Products Science Số 7-2001)
Hoạt tính diệt ký sinh trùng Sốt rét
Dịch chiết bằng các dung môi khác nhau từ lá methi đã được thử nghiệm ‘in vitro’ trên các chủng ký sinh trùng gây sốt rét Plasmodium falciparum (gồm các chủng còn mẫn cảm và các chủng đã kháng chloro quin). Kết quả cho thấy, dịch chiết bằng ethanol 50% có hoạt tính diệt ký sinh trùng mạnh nhất ở liều IC50 = 8.75 +/- 0.35 microg ml(-1) đối với plasmodium còn phản ứng với chloroquin và ở liều IC50 = 10.25 +/- 0.35 microg ml (-1) đối với plasmodium đã kháng chloroquin. Các dịch chiết bằng butanol, chloroform và ethyl acetate tuy cũng có tác dụng nhưng yếu hơn nhiều (Evidence Based Complementary and Alternative Medi cines Số 2 tháng 5, 2008). Hạt methi có khả năng diệt được ấu trùng (lăng quăng) của muỗi đòn sóc Anopheles pharoensis: Nồng độ cao hơn 0.5% có thể diệt toàn bộ số lượng lăng quăng (Egyptian Society of Parasitology Số 36-2006).
Khả năng chống oxy-hóa
Nhiều nghiên cứu trong công nghiệp thực phẩm đã cho thấy hạt methi có thể hữu hiệu khi dùng làm chất chống oxy-hóa để bảo quản thực phẩm. Trong một thử nghiệm, tiềm năng chống oxy-hóa của methi có thể so sánh được với các chất kháng oxy tổng hợp như butylated hydroxyanisole và butylated hydroxytoluene (Meat Science Số 57-2001); khả năng kháng-oxy của hạt methi hoạt động rất tốt khi dùng bảo quản thịt heo xay (cà thịt tươi lẫn thịt đông lạnh).
Khả năng bảo vệ gan chống tác hại của rượu
Các polyphenols trích từ hạt methi được nghiên cứu về khả năng bảo vệ gan (nơi chuột) chống lại tác hại của rượu: Ruột bị gây hư gan bằng cho uống thenol 6g/kg mỗi ngày liên tục trong 60 ngày: các triệu chứng hư gan bao gồm các thông số về hoạt động của các men gan, giảm hạ các nhóm sulfohydryl, gia tăng các nhóm carbonyl proteins. Kết quả ghi nhận là methi có hoạt tính tương tự như silymarin (dùng làm đối chứng), giúp cải thiện được các thay đổi bệnh lý ở gan gây ra do rượu (Cell Biology and Toxicology Số 24-2008).
Khả năng ngừa và trị sạn thận
Hạt methi được sử dụng tại Maroc để ngừa và trị sạn thận. Nghiên cứu tại ĐH Cadi-Ayyad Marrakech (Maroc) ghi nhận hiện tượng calci hóa trong thận và lượng calcium tổng cộng nơi các tế bào thận của chuột được cho uống dịch chiết từ hạt methi thấp hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng. Methi cho thấy tương đối hiệu nghiệm trong tác dụng ngăn ngừa sự tạo sạn calcium oxalate (Phytotherapy Research Số 21-2007).
Hạt methi và Ung thư
Trong một thử nghiệm thực hiện tại Đại học UAE (United Arab Emirates) hạt methi cho thấy có hoạt tính bảo vệ được chuột chống lại ung thư vú, gây ra bởi 7,12 dimethylbenz (alpha) anthracene (DMBA). Liều 200 mg/ kg trọng lượng cơ thể ức chế rõ rệt hiện tượng phì vú do DMBA tạo ra, hoạt tính này được giải thích là do gây ra hiệu ứng tế bào được mã hóa để tự diệt (apoptosis) (Cell Biology International Số 29-2005). Dịch chiết từ hạt methi bằng alcohol, khi thử nghiệm trên chuột bị gây ung thư loại Ehrlich Ascites Carcinoma (EAC) cho thấy khi chích qua màng phúc toan (trước và sau khi chuột bị cấy tế bào ung thư), methi có thể ức chế sự tăng trưỡng của tế bào ung thư đến 70% (Phytotherapy Research Số 15-2001).
Đặc tính dinh dưỡng của hạt methi:
Trong 100gram của hạt methi chứa :
- Calories 323 g
- Chất đạm 23.00 g
- Chất sơ 10.07 g
- Chất béo 6.41 g
- Calcium 176 mg
- Sắt 33.53 mg
- Magnesium 191 mg
- Phosphorus 296 mg
- Potassium 770 mg
- Sodium 67 mg
- Kẽm 2.5 mg
- Đồng 1.11 mg
- Manganese 1.228 mg
- Thiamine 0.322 mg
- Riboflavine 0.366 mg
- Niacin 1.640 mg
- Folic acid 57 mg
- Vitamin C 3.00 mg
Hạt methi dùng trong nhiều món ăn
Tại Ấn Độ, hạt methi ngoài vai trò trong càri, còn là một trong 3 chất của idli hay dosa (Tamil); là một trong thành phần nguyên liệu để làm loại bánh mì khakhra. Tại Ethiopia và Erythrea, hạt dùng trong bánh mì injera/taita, loại bánh truyền thống của vùng Sừng Phi châu. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, hạt (gọi là ceman) dùng trong bột cay để làm món pastirma.
Tại Ai cập, hạt được đun sôi, thêm đường, để thành món nước uống rất được ưa thích trong những tháng mùa Đông. Tại những nơi khác trong vùng Trung Đông, methi có mặt trong nhiều món kẹo, bánh, chè ngọt. Món bánh ngọt tráng miệng Helba (bánh phủ đường hay si rô maple, rắc thêm hạt methi trên mặt) rất được ưa thích trong các dịp lễ lạc Hồi giáo. Người Do Thái có phong tục ăn methi trong bữa ăn của đêm thứ nhất hay thứ nhì của lễ Rosh Hashana (Năm Mới). "

Sản phẩm:

Hạt Methi Ấn Độ, nguyên hạt giá 320.000VNĐ/1kg


Trà Methi Ấn Độ

http://www.bacsi.com/view.php?image=components/com_virtuemart/shop_image/product/bacsi1314072139.jpg&mode=resize&size=250x250

TRÀ METHI - PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG


Hạ Cholesterol, hạ thấp Glucose trong máu.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy hạt Methi giúp giảm Cholesterol trong máu. Những người ăn một chén súp hạt Methi, hay uống trà Methi, sau thời gian ngắn, mức Cholesterol giảm trên 10% là do hạt Methi làm giảm mức độ Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) một cách đáng kể. Hạt Methi còn chứa Galactomannan, đây là một loại chất xơ hòa tan tự nhiên. Nhờ đó mà mỗi ngày uống trà Methi giúp ngăn chặn các bệnh tim mạch, huyết áp, cải thiện hệ tuần hoàn, hạ thấp Glucose trong máu.



Mỗi ngày uống trà Methi, những người bị tiểu đường type 1, type 2 được ghi nhân đường trong nước tiểu đã giảm trên 50%, kết quả này là nhờ chất Galactomannan làm chậm tốc độ hấp thụ đường vào máu và axit amin 4 – hydroxyisoleucin kích thích sự tiết insulin nhờ đó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.



Cách dùng:

Mỗi ngày uống 20-80gr( tương đương 2 - 6 muỗn cafe )/ngày. Trà có mùi thơm dễ uống. Không nên dùng quá liều dễ gây cảm giác khó chịu.

Giá bán: 320.000đ/ 1kg

Quy Cách đóng gói: Hạt  được đóng gói trong bao hút chân không đảm bảo giữ nguyên chất  lượng của sản phẩm.

Khối lượng: 500gr/ gói

Bộ tài liệu cho mỗi 1Kg: 2 gói Methi 500gr/gói, Tài liệu hướng dẫn sử dụng, thành phần của Methi.

 
Trà Methi Ấn Độ có giá 90.000 VNĐ/1hộp
Để biết thêm thông tin về Thảo dược Mê Thi Ấn Độ  - PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG  này, xin vui lòng liên hệ theo:
Phạm Thanh Hùng
Yahoo: thanh_hungtb
Skype: hung.vcid
Email:  info@gioithieu.com.vn
Hot-line (24/7): 0985. 116. 217
Mobile:             0947336456
Tel:                    0466552656
Số tài khoản: 1200209203960
Sở giao dịch Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam
số 2 Láng Hạ - Ba Đình - Hà Nội 


0
Công dụng của hạt methi
Hạt methi và tiểu đường
Hạt methi là một trong số ít dược thảo được WHO và nhiều quốc gia công nhận là có hoạt tính giúp hạ đường trong máụ. Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã giúp chứng minh khả năng hạ đường của hạt methi, khi thử trên thú vật và cả khi thử nghiệm lâm sàng nơi người (theo Phytotherapy Research số 12-1998).
Hạt methi có thể sử dụng đơn độc hay dùng phối hợp với vanadate, tạo ra một sự bình thường hóa các men glucose-6-phosphatase và fructose-1,6-biphosphatase trong gan và thận của người bị tiểu đường. Hoạt tính hạ đường tăng cao hơn khi dùng dưới dạng phối hợp. Hạt methi cũng có hoạt tính giúp bình thường hóa hoạt động của men glyoxalase I nơi gan của chuột bị tiểu đường (Indian Journal of Expe rimental Biology số 37-1999).
Khi cho chuột bình thường và chuột bị gây tiểu đường bằng alloxan dùng methi ở những liều 2 và 8g/kg hiệu ứng hạ glucose trong máu xảy ra rất rõ rệt, hiệu ứng này tùy thuộc vào liều sử dụng (Journal of Ethnopharmacology Số 75-2001).
Một thử nghiệm khác trên 21 bệnh nhân NIDM (Người bị tiểu đường không phụ thuộc vào insulin) ghi nhận liều 15gram hạt cho dùng một lần trong bữa ăn gây hạ glucose trong máu, và không gây những thay đổi về nồng độ insulin (Nutrition Research Số 16-1996).
Ngoài ra, cũng trong một thử nghiệm trên 15 bệnh nhân NIDM, cho dùng hạt methi đã loại chất béo trong 10 ngày, gây hạ glucose trong máu (nhịn ăn đêm trước) và giảm lượng glucose đào thải qua nước tiểu đến 64%. Thử nghiệm này cho rằng cơ chế tạo ra hạ đường trong máu của methi có thể do hiệu ứng của chất sơ dinh dưỡng (Soluble dietary fiber) trên sự hấp thu glucose nơi ruột và do sự cải thiện hoạt tính ngoại vi của insulin (Nutrition Research Số 10-1990; British Journal of Nutri tion Số 97-2007).
Hạt methi cũng làm giảm được một số triệu chứng của tiểu đường như khát nước, đi tiểu nhiều lần, yếu mệt và sụt cân.
Tại các bệnh viện ở Trung Hoa, Saponins tổng cộng trích từ hạt methi đã được dùng phối hợp với sulfonylurea để trị tiểu đường cho thấy sự phối hợp đem lại những kết quả rất tốt, giúp bệnh nhân giảm được sulfonylurea và kiểm soát được mức đường hữu hiệu hơn (Chinese Journal of Integrative Medicine Số 14-2008).
Hạt methi và cholesterol
Một số nghiên cứu thực nghiệm nơi chuột đã chứng minh được hoạt tính làm hạ cholesterol của methi (Current Science Số 51-1982). Hạt methi giúp ngừa gia tăng cholesterol nơi chuột cho ăn các thực phẩm hay một chế độ ăn uống chứa nhiều cholesterol (British Journal of Nutrition Số 69-1993).
Một acid amin đặc biệt trích từ methi: 4-hydroxyisoleucine có khả năng gây hạ triglycerides trong máu đến 33%, cholesterol tổng cộng đến 22% và acid béo tự do 14%, cùng với sự tăng tỷ lệ HDL-C/TC đến 39% khi thử trên chuột bị gây cao mỡ trong máu (Bio organic & Medicinal Chemistry Letters Số 15-2006)
Saponin loại steroid, trích từ hạt methi, thử nơi chuột, với liều mỗi ngày 12.5g/ 300g trọng lượng cơ thể làm hạ rõ rệt cholesterol trong huyết tương ở cả chuột bình thường lẫn chuột bị tiểu đường (Steroids Số 60-1995).
Hoạt tính chống sưng của methi
Hạt methi đã được nghiên cứu vế tác dụng chống sưng, thử nghiệm trên chuột lang (albino) bị gây viêm bằng các chất gây sưng khác nhau. Hoạt tính chống sưng được so sánh với sodium salicylate. Dịch chiết từ hạt bằng ether có hoạt tính mạnh nhất (Indian Drugs Số February 1982). Một thử nghiệm khác cũng trên chuột, bị gây đau bằng acid acetic, bằng nhiệt (bị đặt trên đĩa nung nóng), dịch chiết từ hạt methi được so sánh với pentazocine và diclofenac, kết quả ghi nhận phần tan trong nước của dịch chiết có hoạt tính chống sưng và làm giảm đau khá mạnh (Asian Pacific Journal of Clinical Nutrition Số 16-2007).
Khả năng kháng sinh
Methi đã được thử nghiệm về hoạt tính kháng sinh trên 26 loại vi trùng gây bệnh và cho thấy khả năng kháng sinh khá rộng, dầu béo và Phần không bị savon-hóa, trích từ hạt đều có hoạt tính kháng sinh khá mạnh (Natural Products Science Số 7-2001)
Hoạt tính diệt ký sinh trùng Sốt rét
Dịch chiết bằng các dung môi khác nhau từ lá methi đã được thử nghiệm ‘in vitro’ trên các chủng ký sinh trùng gây sốt rét Plasmodium falciparum (gồm các chủng còn mẫn cảm và các chủng đã kháng chloro quin). Kết quả cho thấy, dịch chiết bằng ethanol 50% có hoạt tính diệt ký sinh trùng mạnh nhất ở liều IC50 = 8.75 +/- 0.35 microg ml(-1) đối với plasmodium còn phản ứng với chloroquin và ở liều IC50 = 10.25 +/- 0.35 microg ml (-1) đối với plasmodium đã kháng chloroquin. Các dịch chiết bằng butanol, chloroform và ethyl acetate tuy cũng có tác dụng nhưng yếu hơn nhiều (Evidence Based Complementary and Alternative Medi cines Số 2 tháng 5, 2008). Hạt methi có khả năng diệt được ấu trùng (lăng quăng) của muỗi đòn sóc Anopheles pharoensis: Nồng độ cao hơn 0.5% có thể diệt toàn bộ số lượng lăng quăng (Egyptian Society of Parasitology Số 36-2006).
Khả năng chống oxy-hóa
Nhiều nghiên cứu trong công nghiệp thực phẩm đã cho thấy hạt methi có thể hữu hiệu khi dùng làm chất chống oxy-hóa để bảo quản thực phẩm. Trong một thử nghiệm, tiềm năng chống oxy-hóa của methi có thể so sánh được với các chất kháng oxy tổng hợp như butylated hydroxyanisole và butylated hydroxytoluene (Meat Science Số 57-2001); khả năng kháng-oxy của hạt methi hoạt động rất tốt khi dùng bảo quản thịt heo xay (cà thịt tươi lẫn thịt đông lạnh).
Khả năng bảo vệ gan chống tác hại của rượu
Các polyphenols trích từ hạt methi được nghiên cứu về khả năng bảo vệ gan (nơi chuột) chống lại tác hại của rượu: Ruột bị gây hư gan bằng cho uống thenol 6g/kg mỗi ngày liên tục trong 60 ngày: các triệu chứng hư gan bao gồm các thông số về hoạt động của các men gan, giảm hạ các nhóm sulfohydryl, gia tăng các nhóm carbonyl proteins. Kết quả ghi nhận là methi có hoạt tính tương tự như silymarin (dùng làm đối chứng), giúp cải thiện được các thay đổi bệnh lý ở gan gây ra do rượu (Cell Biology and Toxicology Số 24-2008).
Khả năng ngừa và trị sạn thận
Hạt methi được sử dụng tại Maroc để ngừa và trị sạn thận. Nghiên cứu tại ĐH Cadi-Ayyad Marrakech (Maroc) ghi nhận hiện tượng calci hóa trong thận và lượng calcium tổng cộng nơi các tế bào thận của chuột được cho uống dịch chiết từ hạt methi thấp hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng. Methi cho thấy tương đối hiệu nghiệm trong tác dụng ngăn ngừa sự tạo sạn calcium oxalate (Phytotherapy Research Số 21-2007).
Hạt methi và Ung thư
Trong một thử nghiệm thực hiện tại Đại học UAE (United Arab Emirates) hạt methi cho thấy có hoạt tính bảo vệ được chuột chống lại ung thư vú, gây ra bởi 7,12 dimethylbenz (alpha) anthracene (DMBA). Liều 200 mg/ kg trọng lượng cơ thể ức chế rõ rệt hiện tượng phì vú do DMBA tạo ra, hoạt tính này được giải thích là do gây ra hiệu ứng tế bào được mã hóa để tự diệt (apoptosis) (Cell Biology International Số 29-2005). Dịch chiết từ hạt methi bằng alcohol, khi thử nghiệm trên chuột bị gây ung thư loại Ehrlich Ascites Carcinoma (EAC) cho thấy khi chích qua màng phúc toan (trước và sau khi chuột bị cấy tế bào ung thư), methi có thể ức chế sự tăng trưỡng của tế bào ung thư đến 70% (Phytotherapy Research Số 15-2001).
Đặc tính dinh dưỡng của hạt methi:
Trong 100gram của hạt methi chứa :
- Calories 323 g
- Chất đạm 23.00 g
- Chất sơ 10.07 g
- Chất béo 6.41 g
- Calcium 176 mg
- Sắt 33.53 mg
- Magnesium 191 mg
- Phosphorus 296 mg
- Potassium 770 mg
- Sodium 67 mg
- Kẽm 2.5 mg
- Đồng 1.11 mg
- Manganese 1.228 mg
- Thiamine 0.322 mg
- Riboflavine 0.366 mg
- Niacin 1.640 mg
- Folic acid 57 mg
- Vitamin C 3.00 mg
Hạt methi dùng trong nhiều món ăn
Tại Ấn Độ, hạt methi ngoài vai trò trong càri, còn là một trong 3 chất của idli hay dosa (Tamil); là một trong thành phần nguyên liệu để làm loại bánh mì khakhra. Tại Ethiopia và Erythrea, hạt dùng trong bánh mì injera/taita, loại bánh truyền thống của vùng Sừng Phi châu. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, hạt (gọi là ceman) dùng trong bột cay để làm món pastirma.
Tại Ai cập, hạt được đun sôi, thêm đường, để thành món nước uống rất được ưa thích trong những tháng mùa Đông. Tại những nơi khác trong vùng Trung Đông, methi có mặt trong nhiều món kẹo, bánh, chè ngọt. Món bánh ngọt tráng miệng Helba (bánh phủ đường hay si rô maple, rắc thêm hạt methi trên mặt) rất được ưa thích trong các dịp lễ lạc Hồi giáo. Người Do Thái có phong tục ăn methi trong bữa ăn của đêm thứ nhất hay thứ nhì của lễ Rosh Hashana (Năm Mới). "

Sản phẩm:

Hạt Methi Ấn Độ, nguyên hạt giá 320.000VNĐ/1kg


Trà Methi Ấn Độ

http://www.bacsi.com/view.php?image=components/com_virtuemart/shop_image/product/bacsi1314072139.jpg&mode=resize&size=250x250

TRÀ METHI - PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG


Hạ Cholesterol, hạ thấp Glucose trong máu.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy hạt Methi giúp giảm Cholesterol trong máu. Những người ăn một chén súp hạt Methi, hay uống trà Methi, sau thời gian ngắn, mức Cholesterol giảm trên 10% là do hạt Methi làm giảm mức độ Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) một cách đáng kể. Hạt Methi còn chứa Galactomannan, đây là một loại chất xơ hòa tan tự nhiên. Nhờ đó mà mỗi ngày uống trà Methi giúp ngăn chặn các bệnh tim mạch, huyết áp, cải thiện hệ tuần hoàn, hạ thấp Glucose trong máu.



Mỗi ngày uống trà Methi, những người bị tiểu đường type 1, type 2 được ghi nhân đường trong nước tiểu đã giảm trên 50%, kết quả này là nhờ chất Galactomannan làm chậm tốc độ hấp thụ đường vào máu và axit amin 4 – hydroxyisoleucin kích thích sự tiết insulin nhờ đó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.



Cách dùng:

Mỗi ngày uống 20-80gr( tương đương 2 - 6 muỗn cafe )/ngày. Trà có mùi thơm dễ uống. Không nên dùng quá liều dễ gây cảm giác khó chịu.

Giá bán: 320.000đ/ 1kg

Quy Cách đóng gói: Hạt  được đóng gói trong bao hút chân không đảm bảo giữ nguyên chất  lượng của sản phẩm.

Khối lượng: 500gr/ gói

Bộ tài liệu cho mỗi 1Kg: 2 gói Methi 500gr/gói, Tài liệu hướng dẫn sử dụng, thành phần của Methi.

 
Trà Methi Ấn Độ có giá 90.000 VNĐ/1hộp
Để biết thêm thông tin về Thảo dược Mê Thi Ấn Độ  - PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG  này, xin vui lòng liên hệ theo:
Phạm Thanh Hùng
Yahoo: thanh_hungtb
Skype: hung.vcid
Email:  info@gioithieu.com.vn
Hot-line (24/7): 0985. 116. 217
Mobile:             0947336456
Tel:                    0466552656
Số tài khoản: 1200209203960
Sở giao dịch Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam
số 2 Láng Hạ - Ba Đình - Hà Nội 


0
Công dụng của hạt methi
Hạt methi và tiểu đường
Hạt methi là một trong số ít dược thảo được WHO và nhiều quốc gia công nhận là có hoạt tính giúp hạ đường trong máụ. Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã giúp chứng minh khả năng hạ đường của hạt methi, khi thử trên thú vật và cả khi thử nghiệm lâm sàng nơi người (theo Phytotherapy Research số 12-1998).
Hạt methi có thể sử dụng đơn độc hay dùng phối hợp với vanadate, tạo ra một sự bình thường hóa các men glucose-6-phosphatase và fructose-1,6-biphosphatase trong gan và thận của người bị tiểu đường. Hoạt tính hạ đường tăng cao hơn khi dùng dưới dạng phối hợp. Hạt methi cũng có hoạt tính giúp bình thường hóa hoạt động của men glyoxalase I nơi gan của chuột bị tiểu đường (Indian Journal of Expe rimental Biology số 37-1999).
Khi cho chuột bình thường và chuột bị gây tiểu đường bằng alloxan dùng methi ở những liều 2 và 8g/kg hiệu ứng hạ glucose trong máu xảy ra rất rõ rệt, hiệu ứng này tùy thuộc vào liều sử dụng (Journal of Ethnopharmacology Số 75-2001).
Một thử nghiệm khác trên 21 bệnh nhân NIDM (Người bị tiểu đường không phụ thuộc vào insulin) ghi nhận liều 15gram hạt cho dùng một lần trong bữa ăn gây hạ glucose trong máu, và không gây những thay đổi về nồng độ insulin (Nutrition Research Số 16-1996).
Ngoài ra, cũng trong một thử nghiệm trên 15 bệnh nhân NIDM, cho dùng hạt methi đã loại chất béo trong 10 ngày, gây hạ glucose trong máu (nhịn ăn đêm trước) và giảm lượng glucose đào thải qua nước tiểu đến 64%. Thử nghiệm này cho rằng cơ chế tạo ra hạ đường trong máu của methi có thể do hiệu ứng của chất sơ dinh dưỡng (Soluble dietary fiber) trên sự hấp thu glucose nơi ruột và do sự cải thiện hoạt tính ngoại vi của insulin (Nutrition Research Số 10-1990; British Journal of Nutri tion Số 97-2007).
Hạt methi cũng làm giảm được một số triệu chứng của tiểu đường như khát nước, đi tiểu nhiều lần, yếu mệt và sụt cân.
Tại các bệnh viện ở Trung Hoa, Saponins tổng cộng trích từ hạt methi đã được dùng phối hợp với sulfonylurea để trị tiểu đường cho thấy sự phối hợp đem lại những kết quả rất tốt, giúp bệnh nhân giảm được sulfonylurea và kiểm soát được mức đường hữu hiệu hơn (Chinese Journal of Integrative Medicine Số 14-2008).
Hạt methi và cholesterol
Một số nghiên cứu thực nghiệm nơi chuột đã chứng minh được hoạt tính làm hạ cholesterol của methi (Current Science Số 51-1982). Hạt methi giúp ngừa gia tăng cholesterol nơi chuột cho ăn các thực phẩm hay một chế độ ăn uống chứa nhiều cholesterol (British Journal of Nutrition Số 69-1993).
Một acid amin đặc biệt trích từ methi: 4-hydroxyisoleucine có khả năng gây hạ triglycerides trong máu đến 33%, cholesterol tổng cộng đến 22% và acid béo tự do 14%, cùng với sự tăng tỷ lệ HDL-C/TC đến 39% khi thử trên chuột bị gây cao mỡ trong máu (Bio organic & Medicinal Chemistry Letters Số 15-2006)
Saponin loại steroid, trích từ hạt methi, thử nơi chuột, với liều mỗi ngày 12.5g/ 300g trọng lượng cơ thể làm hạ rõ rệt cholesterol trong huyết tương ở cả chuột bình thường lẫn chuột bị tiểu đường (Steroids Số 60-1995).
Hoạt tính chống sưng của methi
Hạt methi đã được nghiên cứu vế tác dụng chống sưng, thử nghiệm trên chuột lang (albino) bị gây viêm bằng các chất gây sưng khác nhau. Hoạt tính chống sưng được so sánh với sodium salicylate. Dịch chiết từ hạt bằng ether có hoạt tính mạnh nhất (Indian Drugs Số February 1982). Một thử nghiệm khác cũng trên chuột, bị gây đau bằng acid acetic, bằng nhiệt (bị đặt trên đĩa nung nóng), dịch chiết từ hạt methi được so sánh với pentazocine và diclofenac, kết quả ghi nhận phần tan trong nước của dịch chiết có hoạt tính chống sưng và làm giảm đau khá mạnh (Asian Pacific Journal of Clinical Nutrition Số 16-2007).
Khả năng kháng sinh
Methi đã được thử nghiệm về hoạt tính kháng sinh trên 26 loại vi trùng gây bệnh và cho thấy khả năng kháng sinh khá rộng, dầu béo và Phần không bị savon-hóa, trích từ hạt đều có hoạt tính kháng sinh khá mạnh (Natural Products Science Số 7-2001)
Hoạt tính diệt ký sinh trùng Sốt rét
Dịch chiết bằng các dung môi khác nhau từ lá methi đã được thử nghiệm ‘in vitro’ trên các chủng ký sinh trùng gây sốt rét Plasmodium falciparum (gồm các chủng còn mẫn cảm và các chủng đã kháng chloro quin). Kết quả cho thấy, dịch chiết bằng ethanol 50% có hoạt tính diệt ký sinh trùng mạnh nhất ở liều IC50 = 8.75 +/- 0.35 microg ml(-1) đối với plasmodium còn phản ứng với chloroquin và ở liều IC50 = 10.25 +/- 0.35 microg ml (-1) đối với plasmodium đã kháng chloroquin. Các dịch chiết bằng butanol, chloroform và ethyl acetate tuy cũng có tác dụng nhưng yếu hơn nhiều (Evidence Based Complementary and Alternative Medi cines Số 2 tháng 5, 2008). Hạt methi có khả năng diệt được ấu trùng (lăng quăng) của muỗi đòn sóc Anopheles pharoensis: Nồng độ cao hơn 0.5% có thể diệt toàn bộ số lượng lăng quăng (Egyptian Society of Parasitology Số 36-2006).
Khả năng chống oxy-hóa
Nhiều nghiên cứu trong công nghiệp thực phẩm đã cho thấy hạt methi có thể hữu hiệu khi dùng làm chất chống oxy-hóa để bảo quản thực phẩm. Trong một thử nghiệm, tiềm năng chống oxy-hóa của methi có thể so sánh được với các chất kháng oxy tổng hợp như butylated hydroxyanisole và butylated hydroxytoluene (Meat Science Số 57-2001); khả năng kháng-oxy của hạt methi hoạt động rất tốt khi dùng bảo quản thịt heo xay (cà thịt tươi lẫn thịt đông lạnh).
Khả năng bảo vệ gan chống tác hại của rượu
Các polyphenols trích từ hạt methi được nghiên cứu về khả năng bảo vệ gan (nơi chuột) chống lại tác hại của rượu: Ruột bị gây hư gan bằng cho uống thenol 6g/kg mỗi ngày liên tục trong 60 ngày: các triệu chứng hư gan bao gồm các thông số về hoạt động của các men gan, giảm hạ các nhóm sulfohydryl, gia tăng các nhóm carbonyl proteins. Kết quả ghi nhận là methi có hoạt tính tương tự như silymarin (dùng làm đối chứng), giúp cải thiện được các thay đổi bệnh lý ở gan gây ra do rượu (Cell Biology and Toxicology Số 24-2008).
Khả năng ngừa và trị sạn thận
Hạt methi được sử dụng tại Maroc để ngừa và trị sạn thận. Nghiên cứu tại ĐH Cadi-Ayyad Marrakech (Maroc) ghi nhận hiện tượng calci hóa trong thận và lượng calcium tổng cộng nơi các tế bào thận của chuột được cho uống dịch chiết từ hạt methi thấp hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng. Methi cho thấy tương đối hiệu nghiệm trong tác dụng ngăn ngừa sự tạo sạn calcium oxalate (Phytotherapy Research Số 21-2007).
Hạt methi và Ung thư
Trong một thử nghiệm thực hiện tại Đại học UAE (United Arab Emirates) hạt methi cho thấy có hoạt tính bảo vệ được chuột chống lại ung thư vú, gây ra bởi 7,12 dimethylbenz (alpha) anthracene (DMBA). Liều 200 mg/ kg trọng lượng cơ thể ức chế rõ rệt hiện tượng phì vú do DMBA tạo ra, hoạt tính này được giải thích là do gây ra hiệu ứng tế bào được mã hóa để tự diệt (apoptosis) (Cell Biology International Số 29-2005). Dịch chiết từ hạt methi bằng alcohol, khi thử nghiệm trên chuột bị gây ung thư loại Ehrlich Ascites Carcinoma (EAC) cho thấy khi chích qua màng phúc toan (trước và sau khi chuột bị cấy tế bào ung thư), methi có thể ức chế sự tăng trưỡng của tế bào ung thư đến 70% (Phytotherapy Research Số 15-2001).
Đặc tính dinh dưỡng của hạt methi:
Trong 100gram của hạt methi chứa :
- Calories 323 g
- Chất đạm 23.00 g
- Chất sơ 10.07 g
- Chất béo 6.41 g
- Calcium 176 mg
- Sắt 33.53 mg
- Magnesium 191 mg
- Phosphorus 296 mg
- Potassium 770 mg
- Sodium 67 mg
- Kẽm 2.5 mg
- Đồng 1.11 mg
- Manganese 1.228 mg
- Thiamine 0.322 mg
- Riboflavine 0.366 mg
- Niacin 1.640 mg
- Folic acid 57 mg
- Vitamin C 3.00 mg
Hạt methi dùng trong nhiều món ăn
Tại Ấn Độ, hạt methi ngoài vai trò trong càri, còn là một trong 3 chất của idli hay dosa (Tamil); là một trong thành phần nguyên liệu để làm loại bánh mì khakhra. Tại Ethiopia và Erythrea, hạt dùng trong bánh mì injera/taita, loại bánh truyền thống của vùng Sừng Phi châu. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, hạt (gọi là ceman) dùng trong bột cay để làm món pastirma.
Tại Ai cập, hạt được đun sôi, thêm đường, để thành món nước uống rất được ưa thích trong những tháng mùa Đông. Tại những nơi khác trong vùng Trung Đông, methi có mặt trong nhiều món kẹo, bánh, chè ngọt. Món bánh ngọt tráng miệng Helba (bánh phủ đường hay si rô maple, rắc thêm hạt methi trên mặt) rất được ưa thích trong các dịp lễ lạc Hồi giáo. Người Do Thái có phong tục ăn methi trong bữa ăn của đêm thứ nhất hay thứ nhì của lễ Rosh Hashana (Năm Mới). "

Sản phẩm:

Hạt Methi Ấn Độ, nguyên hạt giá 320.000VNĐ/1kg


Trà Methi Ấn Độ

http://www.bacsi.com/view.php?image=components/com_virtuemart/shop_image/product/bacsi1314072139.jpg&mode=resize&size=250x250

TRÀ METHI - PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG


Hạ Cholesterol, hạ thấp Glucose trong máu.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy hạt Methi giúp giảm Cholesterol trong máu. Những người ăn một chén súp hạt Methi, hay uống trà Methi, sau thời gian ngắn, mức Cholesterol giảm trên 10% là do hạt Methi làm giảm mức độ Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) một cách đáng kể. Hạt Methi còn chứa Galactomannan, đây là một loại chất xơ hòa tan tự nhiên. Nhờ đó mà mỗi ngày uống trà Methi giúp ngăn chặn các bệnh tim mạch, huyết áp, cải thiện hệ tuần hoàn, hạ thấp Glucose trong máu.



Mỗi ngày uống trà Methi, những người bị tiểu đường type 1, type 2 được ghi nhân đường trong nước tiểu đã giảm trên 50%, kết quả này là nhờ chất Galactomannan làm chậm tốc độ hấp thụ đường vào máu và axit amin 4 – hydroxyisoleucin kích thích sự tiết insulin nhờ đó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.



Cách dùng:

Mỗi ngày uống 20-80gr( tương đương 2 - 6 muỗn cafe )/ngày. Trà có mùi thơm dễ uống. Không nên dùng quá liều dễ gây cảm giác khó chịu.

Giá bán: 320.000đ/ 1kg

Quy Cách đóng gói: Hạt  được đóng gói trong bao hút chân không đảm bảo giữ nguyên chất  lượng của sản phẩm.

Khối lượng: 500gr/ gói

Bộ tài liệu cho mỗi 1Kg: 2 gói Methi 500gr/gói, Tài liệu hướng dẫn sử dụng, thành phần của Methi.

 
Trà Methi Ấn Độ có giá 90.000 VNĐ/1hộp
Để biết thêm thông tin về Thảo dược Mê Thi Ấn Độ  - PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG  này, xin vui lòng liên hệ theo:
Phạm Thanh Hùng
Yahoo: thanh_hungtb
Skype: hung.vcid
Email:  info@gioithieu.com.vn
Hot-line (24/7): 0985. 116. 217
Mobile:             0947336456
Tel:                    0466552656
Số tài khoản: 1200209203960
Sở giao dịch Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam
số 2 Láng Hạ - Ba Đình - Hà Nội 


0